Văn phong - Nhân cách

 Văn phong - Nhân cách 

Nguyễn Tuân là một nhà văn lỗi lạc; khen ông không lo bị hố. Có nhiều người khen, có nhiều cách khen. Lắm kẻ khúc khích trầm trồ, chịu nhất cái chỗ Bá Nhỡ đàn cho cô Tơ hát: Tiếng đàn nghẹn ngào u uất của Bá Nhỡ, “nó là cái tấm tức sinh lý của một sự giao hoan lưng chừng” (Chùa Đàn). Cũng lắm người khoái kiểu ví von một chiếc roi chầu bị bẻ cong với hình ảnh người đàn bà ưỡn ngửa ra để tránh một chiếc hôn bạo.
Còn như nhà phê bình Vũ Ngọc Phan thì ông ta tấm ta tấm tắc khen mãi cái tài tả cảnh của Nguyễn Tuân. Tả thú uống trà thì “thật tuyệt”. Tả cảnh đêm báo động đầu tiên tại Hà Nội thì “tuyệt khéo”. Tả cảnh bà Tú chở đồ ăn thức đựng từ Thanh Hóa ra Hà Nội cùng là cảnh Nguyễn đi xe đạp kèm lũ thợ đẩy xe bò gỗ thì “hay tuyệt”, “có thể làm đầu đề cho những họa sĩ nào ưa vẽ những cảnh đặc biệt Việt Nam”. Tả cuộc hòa nhạc của đám ca kỹ Tàu ở Hương Cảng thì “tuyệt hay, làm cho người đọc không lúc nào chán”. Tả một kẻ vô tài mà có tính huênh hoang thì “cực hay” v.v…
Tóm lại “Nguyễn Tuân có ngòi bút tả cảnh lúc hùng tráng, khi ghê rợn, lời văn lại hàm súc, kín đáo, làm cho người đọc ham mê” (Nhà văn hiện đại, quyển ba).
Nhà phê bình nói đúng phóc: Nguyễn Tuân còn tả nhiều cái nữa, phần lớn đều cực hay, tuyệt khéo, đọc không chán. Nhà phê bình không sai không hố chỗ nào, nhưng tôi cứ ngờ ông chưa khen đúng, chưa nhấn mạnh đúng vào cái hay của Nguyễn Tuân. Một nhà văn lớn lại có thể lớn vì khéo tả cái này cái nọ sao? Cũng như một nhà văn lớn lại có thể lớn vì mấy ý nghĩ ngộ nghĩnh, vì những lối nói nghịch ngợm vậy sao? Tả như thế, ví von như thế thì tài thật, thì quả nhiên đọc không thấy chán, đọc ham mê lắm. Nhưng một tác giả mà mê hoặc được người đời có lẽ không mê hoặc vì cái tài nọ tài kia. Chữ “tài” ở đây nghe cứ phảng phất cái nghĩa một kỹ thuật, một ngón nghề, một trò sở trường.
Người nghệ sĩ xuất hiện với đời là xuất hiện như một tâm hồn, chứ không phải như một tập hợp kỹ thuật, dù là kỹ thuật cao siêu. Người đời đến với một nghệ sĩ là tìm đến một tâm hồn; mấy ai buồn tìm hiểu các trò kỹ thuật làm gì đâu.
Thực ra, trong trường hợp Nguyễn Tuân, nhà phê bình Vũ Ngọc Phan cũng có chú ý đến chỗ này nữa. Ông Vũ “chú ý đến lối hành văn đặc biệt của ông (Nguyễn) và những ý kiến cùng tư tưởng phô diễn bằng những giọng tài hoa, sâu cay và khinh bạc, lúc thì đầy nghệ thuật, lúc thì bừa bãi, lôi thôi, như một bức phác họa, nhưng bao giờ nó cũng cho người ta thấy một trạng thái của tâm hồn.” Ông Vũ cho rằng “ông (Nguyễn) là một nhà văn đặc biệt Việt Nam có tính hào hoa và có cái giọng khinh bạc đệ nhất trong văn giới Việt Nam hiện đại” (Nhà văn hiện đại, quyển ba).
Vũ Ngọc Phan có nói về cái “trạng thái của tâm hồn”, nhưng nói không kỹ bằng nói về tài tả cảnh của Nguyễn Tuân; trong khi “trạng thái” mới là cái chính. Tôi buồn ông Vũ chỗ ấy.
“Trạng thái tâm hồn” theo cách nói của ông Vũ, hình như nó là cái phong thái riêng biệt của Nguyễn Tuân. Và nét phong thái ấy, cái cốt cách ấy của Nguyễn Tuân ông Vũ nói cũng đúng nữa: nó là một vẻ hào hoa mà khinh bạc đặc biệt Việt Nam. Thiết tưởng cái đó mới là chỗ độc đáo cốt tủy làm nên sức thu hút của nhà văn.
Phong thái con người nó xuất lộ ở một bản văn đầy nghệ thuật mà cũng có thể xuất lộ ngay ở những câu văn bừa bãi lôi thôi như ông Vũ nhận thấy. Đã có một cốt cách đẹp đẽ thì tả cảnh hay ho càng tốt, mà tả không hay cũng… tốt thôi. Thậm chí không tả, không luận gì hết trơn cũng vẫn tốt được, vẫn đẹp được. Này nhé, Nguyễn Tuân có lần viết: “Chao ôi! Đêm tối như đêm giao thừa. Vẫn lại mưa rả rích. Mưa trên sông. Mưa xuống mái bồng. Mưa trong lòng, - chuyện cũ… ới… ư hừ… ơ… ơi…” Lại có lần nữa viết: “Tôi tưởng còn lâu nữa mới về ở ngay dưới mái nhà của tôi bên sông Tô. Vừa tưởng thế và vừa hiểu luôn rằng như vậy là tôi đã phụ nhiều đến sự săn sóc, đến lòng gây dựng của hai đấng tác giả đời tôi. Chao ôi.” (Tùy bút)
Ý chẳng có ý gì cao xa, cảnh chẳng có cảnh gì ra trò; nhưng “trạng thái tâm hồn” Nguyễn Tuân thì vẫn hiển hiện. Và đó là cái đáng yêu.
Hễ đọc thơ đọc văn mà đã bắt được nét đẹp của một phong cách, đã yêu nó, thì cứ thoáng thấy nó xuất hiện ở đâu là thích đấy, bất luận người nghệ sĩ đang nói gì, đang đề cập đến vấn đề gì, đang tả cái gì, đang kể lể con cà con kê về cái gì. Tả tiếng còi hụ nghe mà ghê, tả bà Tú thấy mà thương v.v…, có tai mắt tuyệt hảo, có khiếu quan sát tinh tường, có nhận xét sắc bén v.v… là chuyện nhỏ nhặt quá, so với một phong cách. Phong cách, nó phản ảnh một quan niệm sống, một thái độ ở đời, nó phản ảnh một khung cảnh xã hội, một thời đại, nó thừa kế các đặc điểm của một dòng dõi, một đường hướng giáo dục, một bầu không khí văn hóa v.v… Nó là cái dung mạo của một tâm hồn.
Hãy khoan nói đến hạng độc giả đọc cho vui, đọc những loại “truyện hay vì truyện”, có lắm gút thắt rối ren được tháo gỡ tài tình. Ngoài trường hợp ấy ra, nếu ta tìm đến cuốn sách cốt để gần gũi một tâm hồn, để bắt gặp một quan niệm nhân sinh, một thái độ ở đời, thái độ của người đồng loại đối với cái sống, cái chết, đối với tình yêu v.v…, nếu thế thì một khi đối diện một phong cách đẹp đẽ, tự nhiên mê tơi. Lúc bấy giờ ta trở nên rộng lượng, không chấp nê những món lẻ tẻ: câu văn cẩu thả, lời lẽ mù mờ v.v… Tha thứ được cả.
Nói ta rộng lượng, e chướng tai chăng? “Ta” là ai mà hách vậy? mà có quyền rộng lượng hẹp lượng đối với các văn gia thi gia? — Không, cái “ta” ấy không dính líu gì đến kẻ đọc người viết những lời bàn tán hôm nay. “Ta” đây là nói chung về độc giả, về khối quần chúng độc giả mênh mông, trải qua nhiều thế hệ, đã âm thầm thưởng thức, phán đoán, chọn lựa, đã tạo dựng nên tên tuổi của tác giả này, làm sáng tỏ giá trị của tác phẩm nọ.
Vừa rồi Nguyễn Tuân được nêu ra, rồi đây nếu có những tác giả khác lại được viện dẫn nữa, họ được nêu dẫn vì lẽ ấy: họ đã được quần chúng chọn lựa, họ đã trước tác hơn nửa thế kỷ; họ đã cách lớp chúng ta một khoảng thời gian khá rộng đủ để cho những phản ứng sôi nổi nhất thời kịp lắng xuống. Cũng vì vậy cái phần trước tác của họ được nói đến đây là cái phần trước 1945, cái phần đã cách xa, đã trải qua thử thách của thời gian, chứ không phải những gì họ mới viết sau này, khi “trạng thái của tâm hồn” họ đã đổi khác: phần sau còn chờ sự thẩm định trong tương lai.
Xin trở lại chỗ rộng lượng. Xuân Diệu có những câu thơ thế này:
“Một ít nắng, vài ba sương mỏng thắm,
Mấy cành xanh, năm bảy sắc yêu yêu.
Thế là xuân. Tôi không hỏi chi nhiều.”
(‘Xuân không mùa’)
“Vài ba sương mỏng thắm” là thế nào? Rồi lại còn “năm bảy sắc yêu yêu”, sắc yêu yêu là cái sắc ra làm sao? là cái sắc quái quỉ gì vậy? Đó là một từ ngữ địa phương, một lối nói riêng của vùng quê cha ngoài Hà Tĩnh hay của vùng quê mẹ trong Bình Định chăng? Chắc không phải thế đâu. Nếu “sắc yêu yêu” mà có đến từ một quê hương nào, thì cái quê hương ấy nên mang tên là Lúng Túng, là Quýnh Quáng. Đang ngon trớn, đang nói dồn nói dập, thi sĩ cứ phóng bừa tới, không muốn để cho những cân nhắc thận trọng, những trau chuốt tỉ mỉ chận mất đà của mình vậy thôi.
Trong cùng một bài thơ ấy, chúng ta còn có thể nhặt được những câu khác, đại khái cùng một lối như thế.
“Xuân ở giữa mùa đông khi nắng hé;
Giữa mùa hè khi trời biếc sau mưa
Giữa mùa thu khi gió sáng bay vừa”
hay:
“Bình minh quá, mỗi khi tình lại hứa”

Hồi trước, có kẻ bảo rằng Xuân Diệu chịu ảnh hưởng Pháp, rằng những câu nọ là “Tây” quá. Ối, Tây nó đâu có ngọng nghịu vậy? Dù sao, Tây hay không Tây, những bài thơ như thế đã làm nên danh tiếng của Xuân Diệu. Nó ra đời năm 1939. Một năm sau khi xuất bản Thơ thơ, vào thời lẫy lừng nhất của thi sĩ.
Trong trường hợp khác, Xuân Diệu lại viết:
… “Nhưng ta sẽ yêu nhau mãi mãi,
mãi mãi là trong những phút giây.
Lâu dài là bóng là mây,
là môi kỳ ngộ là tay hảo cầu.”
(‘Mãi mãi’)
Tại sao vậy? Tại sao phút giây lại là mãi mãi? bóng với mây lại là cái tồn tại lâu dài? Tác giả không giải thích những chuyện tréo tro ngược đời ấy, ông cứ nói, cứ tuôn ra liên tiếp những cái kỳ cục, để… thuyết phục! Và ông đã thuyết phục được, không phải nhờ lý luận, mà nhờ sức lôi cuốn của một niềm tin, của một giọng say sưa dồn dập, của một “trạng thái tâm hồn”: thiết tha, sôi nổi, nồng nàn.
Thành thử nhiều lúc hứng chí lên thi sĩ nói vội nói vàng. Chữ xô đẩy chữ, lời chen lấn lời. Cứ thế ông thu hút người, bất kể từ ngữ ông dùng có chính xác hay không chính xác, lập luận ông đưa ra có chặt chẽ hay không chặt chẽ. Một phong cách, nó quan trọng là thế.
Nhưng làm sao “bắt” được phong cách của một tác giả? Muốn thưởng thức, muốn phân tích, khen chê một cái tài tả cảnh, một lời văn điêu luyện: dễ hơn nhiều. Câu văn nằm chình ình trên trang sách; tha hồ đè nó ra, xem đi xét lại, vạch kẽ từng chữ mà bình mà phê mà giảng mà luận; tha hồ tách bạch từng ý mà hạch hỏi. Còn phong cách, nó phảng phất ở đâu? nó nương mình vào chỗ nào? vào câu nào chữ nào? trong hàng trăm hàng nghìn trang sách?
Biện biệt cho được cái phong cách của một tác giả cũng như của một con người, là cả một rắc rối. Không phải cách nói cẩu thả, vội vàng, bộp chộp nào cũng là một biểu lộ của nhiệt tình sôi nổi, không phải cứ tung bừa ra những lầm lỗi vấp váp thì bỗng dưng có một tâm hồn thiết tha say mê.
Nguyễn Tuân chỉ viết có hai chữ “chao ôi” rồi chấm dứt, rồi sang hàng: thế là tài hoa, là khinh bạc ư? — Ối! gì chứ hai chữ sang hàng thì có gì khó? Đời nay khối kẻ cứ một chữ sang một hàng, liên tiếp năm lần bảy lượt còn dám nữa là một lần! Một chữ, chấm sang hàng. Một chữ nữa, chấm sang hàng. Cứ ngúc nga ngúc ngắc, cà khục cà khặc. Đời nay thiếu gì kẻ dám làm thế? người ta đâu có ngán những trò đó. Khó khăn gì đâu? Phong cách học giảng thuyết dông dài liệu có chắc giúp người ta phân biệt được cái nhăn mặt của Tây Thi với những lối nhăn nhó của các nàng Đông Thi chăng? phân biệt một phong cách đích thực với những bản sao lem nhem chăng?
Biện luận thuyết giảng thì rối rắm, nhưng phong cách là một sự thực. Lấy lương tri ra trực nhận có vẻ giản dị. Bà mẹ của Tôn Quyền không phải là nhà tướng số, thế mà chỉ cần nhìn qua anh chàng Lưu Bị một cái là đủ biết ngay con người đàng hoàng, xứng đáng cho cô gái cưng gửi thân trọn đời. Lại như cái gã Hồ Ban nọ, đã chấp lệnh quan thái thú Huỳnh Dương đem củi khô chất quanh quán dịch, đã đem cả nghìn quân vây chặt, chỉ còn chờ một ngọn lửa châm là đốt cháy tiêu luôn chị em Quan Công, thế nhưng lỡ tò mò ghé mắt nhìn thử bộ dạng Quan Công ngồi đọc sách dưới đèn có một tí ti mà buột miệng kêu: “Quả thật đúng là người nhà Trời!” rồi cúi lạy, rồi mở cửa ải mời Quan Công vọt thẳng.
Ấy, người có cái cốt cách của người nhà Trời, nhác trông qua là biết, không cần phải thử tài cao thấp, phải theo dõi hành trạng một đời, phải nghe biện giải dông dài. Văn cũng có cái cốt cách của văn: cốt cách văn chương nhà Trời, cốt cách phong nhã, cốt cách sát phạt bạo liệt, cốt cách kiều mỵ lâm ly… Hợp thì thoáng qua một cái là thấy hợp, là “bắt” được ngay, là “chịu” liền.
“Chịu” như thế, e có thể bị bắt bẻ. Anh chàng Hồ Ban chịu Quan Công người nhà Trời, đó là tất nhiên. Bà mẹ Tôn Quyền chịu Lưu Bị, cũng là phải cách. Còn như đọc văn sao lại “chịu” một cái văn phong khinh bạc kiêu kỳ? có phải là nhảm không? có phải là chính trong cái nết na của mình đang có chỗ khiếm khuyết trầm trọng, khiến mình xa lánh kẻ khiêm nhu mà mỗi khi bắt gặp một dáng vẻ cao ngạo lại bất giác hớn hở tưng bừng như thể trâu gặp trâu ngựa gặp ngựa?
Mắng như thế là mắng đến nơi đến chốn. Kẻ độc giả phải lấy làm sợ hãi, vội vàng kiểm điểm lại lòng mình; và — thành thực mà nói — thấy quả có điều oan ức. Có sự ngưỡng mộ căn cứ trên các tiêu chuẩn đạo lý; có sự thưởng thức căn cứ trên các tiêu chuẩn thẩm mỹ. Bao nhiêu vẻ đẹp bày ra trong văn chương Đông Tây xưa nay không phải đều là vẻ đẹp cao khiết đoan chính cả. Bàng bạc một niềm nhân ái bao la như thơ Đỗ Phủ là đẹp, thấm thía nỗi u sầu hắc ám như thơ Edgar Poe, Baudelaire cũng là đẹp, hùng hồn dũng mãnh như Victor Hugo là đẹp, mà chán chường não nề như Verlaine, thê thiết như Hồ Dzếnh cũng lại có nét đẹp riêng v.v… Bắt được cái đẹp của phong cách Đỗ Phủ, Victor Hugo, chớ vội vênh váo cho là rồng gặp rồng; rung động trước cái đẹp của phong cách Verlaine, Baudelaire, vị tất đã là rắn khoái rắn.
Văn chương nghệ thuật không phải là chỗ phô trương những phong cách người Trời, những phong cách anh hùng chí sĩ. Thường khi, trái lại. Trong hội họa có thứ tranh quyến rũ vì sắc màu xanh lướt bệnh hoạn, vì những chiếc cổ dài ngoẳng, những bộ mông tục tĩu, trong thi ca có thứ thơ thu hút người vì vần điệu âm u, ảm đạm.
Nhân cách được phân biệt theo thiện ác; văn phong không có văn phong thiện với ác, chỉ có văn phong đẹp với xấu. Và cái hỏng nặng nhất cho người làm văn thơ là không có được một phong cách, dù chuyên làm văn thơ yêu nước thương nòi. Ì ạch viết suốt một đời mà xem ra chẳng thấy một phong cách gì: Chuyện khổ não ấy lại xảy ra đều đều.
Ta liên tưởng đến một chuyện khổ não trần gian khác, cũng lại thường xảy ra: tô phở không mùi.
Trong tác phẩm của Thế Giang có lần hai người trẻ tuổi nói chuyện về phở Thìn ở Hà Nội. Một người bảo: “Cậu thử tưởng tượng xem, về khuya đi ngược gió đông, cách cả trăm thước mà cái thằng phù thủy ấy nó giở nắp thùng lên thì có sởn gai ốc không hả…? Trong túi không có tiền thì bỏ mẹ!” Rồi người ấy lại bồi thêm câu nữa: “Thế mới là phở chứ những chỗ cậu kể đi sắp ngã vào nồi cũng không hay, bát phở bưng đến trước mặt, mở mắt ra mới biết thì còn gì là phở?” (Thằng người có đuôi) Ôi! thật xứng đáng là những lời vàng ngọc về cái chân lý phở.
Hình như cổ nhân đã bận tâm nhiều lắm về mùi thơm của các món ăn. Trong vài món phổ biến như phở Bắc như bún bò Huế, mối bận tâm ấy từng thể hiện nơi chiếc muỗng và cái tô chẳng hạn. Tôi có cảm tưởng bát bún bò ngày xưa bưng ăn ở Huế nó nhỏ hơn ngày nay nhiều. Xưa kia, nó là cái bát tai bèo, vừa bé vừa cạn lại vừa dày cộm: dung lượng được mấy? Vì thế, thực khách có thể “thanh toán” bát bún bò tiền chiến thật nhanh chóng, thanh toán trong khi nó còn nóng hôi hổi, bốc hơi ngào ngạt. Bát bún bò mỗi ngày mỗi nở lớn thêm. Bát lớn quá, ăn mãi một hồi lâu chưa chịu hết, tất nguội lạnh, còn có mùi thơm nào bốc lên từ đống đồ ăn lạnh lẽo ấy nữa? Vả lại, bạn nghĩ coi: người hàng bún chỉ rắc hành tiêu lên mặt một lần, lúc làm xong bát bún bưng mời bạn xơi, chứ có ai đứng mãi bên cạnh mà hầu bạn, mà thỉnh thoảng lại chồm vào rắc hành rắc tiêu cho bạn đâu? Chút hương liệu rắc lên mặt làm sao thơm đến tận đáy bát? Thành thử bảy tám phần mười bát bún lớn, bạn ăn không mùi.
Tô phở nó lại càng lớn mạnh hơn nữa theo thời gian: phở tàu bay, phở tàu ngầm, phở xe lửa v.v… Toàn thể các loại phở “jumbo” ấy là những đấng khổng lồ làm khiếp vía các bậc phở tiền bối. Tại sao không tiếp tục giữ kích thước khiêm tốn cũ: mỗi lần ngon trớn, có đầy đủ yên-sĩ-phi-lý-thuần, ta gọi tiếp tô phở mini thứ nhì, có sao đâu?
Đó là chuyện cái tô. Lại còn vấn đề chiếc muỗng. Ngày còn học ở Huế, mỗi khi ăn bún bò, cả bọn chúng tôi ở cùng một nhà trọ thường ăn cái bún bò gánh đi bán dạo. Bà hàng bún làm xong bát bún hình như chỉ đặt ngang một đôi đũa trên miệng bát trước khi trao cái bát tai bèo đang bốc hơi vào tay thực khách. Tôi không nhớ có kèm theo muỗng. Chúng tôi vừa ăn vừa húp nước xùm xụp.
Trước kia, trên đường Nam tiến món phở chưa vượt qua sông Gianh, tôi không biết lối ăn phở theo phép tắc ngày xưa nó ra thế nào. Bây giờ thỉnh thoảng có bậc tuổi tác gốc miền Bắc nhắc rằng ăn phở trước kia cũng không hay dùng đến muỗng. Lý do là muỗng nó hại mùi.
Hãy tưởng tượng, nấu một món ăn vương giả thơm lừng dưới bếp, mà bao nhiêu vị khách quí thì say sưa bàn những vấn đề quốc quân trọng sự trên phòng khách. Để tỏ lòng ngưỡng mộ một vị thượng khách kính yêu nào đó, ta muốn cho vị ấy nếm thử món ăn đang ở thời điểm thơm ngon nhất. Ta lấy chiếc thìa con múc đầy một thìa, run rẩy mang lên phòng khách trút vào mồm thượng khách kính yêu. Kết quả ra sao? Kết quả là thượng khách đớp phải một món ăn vô vị: món ăn còn đó mà mùi thơm đã chết mất dọc đường. Món ăn dù quí đến chừng nào mà chỉ “trích tuyển” ra một muỗng con, mang đi vòng vo, thì cũng không còn giữ được hương vị nữa.
Vì thế cái muỗng phở trích tuyển đưa lên mồm nó cũng chịu ít nhiều thiệt thòi. Chịu khó bưng tô phở lên mà húp thì mồm chỉ húp một ngụm mà mũi hưởng được cái thơm của cả tô. Nếu quả thật trước kia ăn phở không dùng muỗng thì, một lần nữa, các bậc tiền hiền lại đáng ca ngợi.
E có kẻ cho rằng tôn kính tiền nhân thì nên để trong lòng, còn ngoài mặt hãy nên dung hòa với phép ăn uống của địa phương: ngồi ở một tiệm ăn trên đất Hoa Kỳ, bưng nguyên cái bát to tướng lên mà húp, có khó coi chăng?
— Lấy con mắt người Mỹ mà coi, có khó thật. Nhưng một khi người Mỹ cũng bưng bát lên húp, thì cái coi không còn khó nữa. Tại các tiệm ăn Nhật, thỉnh thoảng người ta vẫn có dọn những món xúp không ăn bằng muỗng. Thật tình mà nói, riêng phần tôi, tôi chỉ gặp một thứ xúp lỏng, ngửi qua mùi chẳng thấy thơm tho gì, thế nhưng theo phép vẫn bưng cả tô để thưởng thức cái mùi mà mình chưa quen. Các thực khách người Mỹ chung quanh cũng vui vẻ làm như thế cả. Không khó coi là mấy.
Mùi thơm của một món ăn, người ta bảo vệ nó cẩn thận như thế, vai trò nó quan trọng như thế, cái thế giá của nó cao như thế, mà sự lợi ích “cụ thể” của nó ra làm sao? Nói về phở chẳng hạn: Phở là món để ăn, không phải để ngửi. Xưa nay thiên hạ hăm hở vào tiệm phở không phải cốt mua lấy tô phở, ngồi ôm hít một lát rồi ra đi thỏa mãn. Đó không phải cách thưởng thức phở chính thống. Ấy thế mà cái phở không thơm, cái phở “đi sắp ngã vào nồi cũng không hay” thì lại không “còn gì là phở”! Có kỳ cục không chứ?
Phở cốt để ăn, vậy cái thực chất của phở là bánh phở, là nước dùng, là miếng thịt, là những sách những nạm v.v…, đó mới là những cái cụ thể để hưởng, còn thơm với không thơm thì hưởng ra làm sao? Thơm không phải là cái ngon của phở; chẳng qua nó chỉ báo hiệu cái ngon. Thưởng thức cái ngon thì được, thưởng thức cái… báo hiệu thì thưởng thức làm chi? Vậy mà không báo hiệu thì… “còn gì là phở”! Kỳ cục thật.
Kỳ cục như văn thơ. Đọc Nguyễn Tuân chẳng hạn là để xem chuyện cô Tơ chuyện cậu Lãnh Út, chuyện cái da cái tóc của chị Hoài, cái cười cái nói của phu nhân họ Bồ v.v… nó ra làm sao. Đó mới là thực chất cụ thể. Ăn phở thì ăn thịt ăn bánh, còn cái mùi chỉ để… ngửi chơi. Đọc sách thì đọc chuyện đọc ý, còn phong thái là cái vô hình phảng phất, chỉ để… ngửi chơi. Vậy mà chính cái đó mới làm cho Nguyễn Tuân thành Nguyễn Tuân, Nguyễn Bính thành Nguyễn Bính, Phan Khôi thành Phan Khôi, cũng như xưa kia cái văn phong đó đã làm cho Lý Bạch thành Lý Bạch, Tô Đông Pha thành Tô Đông Pha v.v… Cái đó chứ không phải là những tài tả cảnh hay ho, là những tư tưởng cao siêu nào.
Hôm nay chúng ta nói lếu nói láo về cái mùi của văn thơ, về chuyện ngửi văn thơ, đừng tưởng là có gì mới mẻ. Người xưa đã từng có lần mắng cái mũi vô duyên của mình khi nó sục sạo, ngửi phải câu thơ thi xã đấy.
Võ Phiến
Theo https://nguoitinhhuvo.wordpress.com/

Nam Định: Bắt quả tang sư thầy "mò" trộm vàng ở miếu làng

 


Một sư thầy trụ trì tại ngôi chùa nhỏ ở huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định lợi dụng lúc chập tối dẫn theo đồng bọn đến rò vàng và đào trộm tại miếu thờ bà chúa làng Thiều Dương (Nam Định).

 

Vào hồi 20h30 tối ngày 18/3 tại làng Thiều Dương, huyện Nam Trực (Nam Định) đã xảy ra vụ việc hy hữu.

Lợi dụng thời gian tối muộn khi người dân đã nghỉ ngơi, ba đối tượng cùng trên địa bàn huyện Nam Trực đã đột nhập vào miếu thờ bà chúa làng Thiều Dương với ý định đào vàng dưới nền nhà đem đi bán lấy tiền tiêu xài.

Hiện trường vụ việc. (Ảnh: người dân cung cấp)

Hiện trường vụ việc. (Ảnh: người dân cung cấp)

Ba đối tượng đã đưa cả máy rò vàng cùng cuốc xuổng để đào tìm vàng tuy nhiên khi đang thực hiện hành vi đã bị dân quân xã và bà con phát hiện, ngăn chặn kịp thời.

Tại hiện trường đã thu giữ được 1 máy dò,1 xe máy của các đối tượng dùng để di chuyển cùng cuốc, xẻng thực hiện hành vi phạm pháp. Tuy nhiên, bất ngờ nhất khi người được cho là chủ mưu lại chính là sư thầy Thích Thanh Đại, trụ trì tại chùa C.T (huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định).

Sư thầy 'dỏm' bị bắt quả tang thực hiện hành vi phạm pháp

Sư thầy "dỏm" bị bắt quả tang thực hiện hành vi phạm pháp

Dù bị bắt tại trận khi đang đào trộm tại khu đất thuộc miếng làng nhưng sư thầy "dỏm" vẫn khăng khăng mình chỉ đến "đào cây duối mọc trên cây đa " sau khi được "Chúa" ngự ở miếu làng báo mộng và cho đến bứng cây về và tạo phúc cho người dân làng Thiều Dương".

Ngay sau khi khống chế được các đối tượng, người dân đã lập tức gọi chính quyền địa phương và lực lượng công an đến lập biên bản và khám nghiệm hiện trường.

Hiện vụ việc đang được tiếp tục điều tra.

Việt Hoàng (Theo Pháp luật và Bạn đọc)

Hạ ơi

  Cái cây khá to nên đã ôm trọn cả 4 đứa vào sau lưng trông rất kín đáo và an toàn. Tôi ngơ ngác chưa hiểu chuyện gì xảy ra thằng Thủy nói thầm vào tai, bàn về kế hoạch hù ma Bà 6. Tôi và Tí khuyên ngăn nhưng thằng Thủy khơi lại chuyện xưa:....

***


Dưới cái nắng chói chang 40 độ C nhưng người nông dân trên cánh đồng Tây Nguyên này vẫn cắm cúi cuốc từng nhác đầy nặng trĩu. Khí hậu đặc sản là nắng và gió cộng với địa hình sườn núi nên hình ảnh "bán mặt cho đất, bán lưng cho trời" để sống qua ngày chẳng có lạ lẵm gì với những con người ở nơi đây.

Cẩn, Thủy, Tí, và tôi là những người bạn chí cốt, đến độ chúng tôi đã từng bắt chước cắt máu ăn thề giống như một bộ phim trung cổ. Như để biểu lộ nghĩa tình mặc dù thằng lớn nhất trong nhóm là Cẩn chỉ vừa bước sang tuổi thứ 10. Nó lớn hơn chúng tôi một tuổi, nhưng cả 4 đứa đều hộc chung một lớp, vì nó học giỏi quá nên cô giáo muốn giữ nó lại để học lớp 2 thêm một năm nữa. Cẩn có dáng người cao to, nên cả cái trường này chẳng tìm được đối thủ nào về đấm đá với nó cả, nói chung khi chơi với nó thì chỉ có Thầy Cô là nổi sợ trong trường của tôi thôi. Ba Má thằng Thủy quá ngán ngẩm vì hai người anh nghịch ngợm, quậy phá của nó nên khi sinh nó ra Ba Má nó quyết định đặt cho nó cái tên vô cùng nữ tính. Và mong rằng nó sẽ ngoan ngoãn, hiền lành nhưng con nhà nong, không giống lông cũng giống cánh thôi. Tí là đứa học giỏi nhất trong nhóm, à không, phải là học giỏi nhất lớp, nên nó được làm lớp trưởng đó là mặc định. Tính tình khắc, vóc dáng ung dung, gương mặt bậm trợn là những gì là tính không có. Thay vào đó là tính tình trái ngược với vóc dáng nhỏ con, tóc bổ luống hai mái lãng tử, nên trong lớp chẳng có ai nể nan lớp trưởng Tí cả. Tôi sống với gia đình có đông anh em, nên Ba Mẹ tôi luôn vất vả làm lụm để có tiền cho anh em tôi đi học đến nơi, đến chốn. Ba tôi đi lái xe ủi, xe múc ở tận biên giới nên Ba tôi lâu lắm mới có dịp về thăm gia đình, tôi ít được tiếp xúc với Ba nên tôi luôn nghĩ rằng Ba tôi là người khó tính.

Vì kinh tế khó khăn nên điều kiện sống và sinh hoạt của những đứa trẻ ở nơi đây không được đầy đủ tiện nghi như bạn bè đồng trang lứa ở như thành phố xa, tráng lệ. Hầu hết trẻ em nơi đây có tuổi thơ rất dữ dội với như trò chơi dân gian, vận động cơ thể, và chúng tôi cũng không có gì ngoại lệ. Mùa hè năm nay dến với chúng tôi cũng giống như bao mùa hè khác, chúng tôi dứt khoác bỏ sách vở sang một bên. Đầu óc chúng tôi bây giờ thư thái hưởng thụ một mùa hè trên những cách đồng lúa bát ngát, những con suối thơ mộng, và bầu trời xanh trong.

ha-oi

Buổi chiều kim đồng hồ chỉ sang giờ thứ bốn, thì tiếng chuông báo thức mang tên Cẩn đã réo gọi tôi ở dàng mướp bên cạnh nhà. Tôi biết đã đến giờ tập hợp cho một trận đấu bóng đá mà ngày nào nó cũng diễn ra giữa đội chúng tôi và đội xóm bên. Tôi đi cùng Cẩn đến gốc đa đầu làng thì đã thấy Tí và Thủy mà không cần phải nhắn tin, hay điện thoại, với lại kiếm đâu ra điện thoại mà nhắn. Cả 4 thằng cùng chạy đua xem ai đến cánh đồng nhanh hơn, cũng như để khởi động cho trận đấu cân não. Nổ cho nó gây cấn vậy thôi chứ trước giờ bóng lăn thì tôi đã biết người thắng, vì nếu chúng tôi thua thì đội kia sẽ được nếm trải cú đấm uy lực từ tay thằng Cẩn. Trận đấu kết thúc là màn thư giãn xương khớp trong con suối mát lạnh, tắm xả láng đến lúc mặt trời ửng hồng vẫy chào xuống núi thì tôi biết mình có bổn phận phải về nhà.

Đường về nhà đầy rẫy những chiến tích trên môi miệng của đấu ngày hôm nay thì bất chợt đằng xa chúng tôi thấy bóng dáng ai đó đang cắm cúi sệt soạt giữa những lùm cỏ cao vút. Vì trời đã mờ tối, chúng tôi lại gần hơn mới nhận ra đó là Bà 6 đang tranh thủ cắt những bó cỏ sau một ngày làm việc mệt mỏi. Thủy đưa tay lên miệng như kiểu im lặng, và ra lệnh tất cả nấp vào cái cây cạnh đó. Cái cây khá to nên đã ôm trọn cả 4 đứa vào sau lưng trông rất kín đáo và an toàn. Tôi ngơ ngác chưa hiểu chuyện gì xảy ra thằng Thủy nói thầm vào tai, bàn về kế hoạch hù ma Bà 6. Tôi và Tí khuyên ngăn nhưng thằng Thủy khơi lại chuyện xưa: Vụ Bà 6 mắng vốn Ba Má nó về chuyện nó ăn hiếp cháu trai của Bà 6, tôi nghe xong chuyện liền bị thuyết phục ngay.

Thằng Thủy mở màn bằng những khóc nghe có phần man rợn khi đứng một mình với màn đêm bao trùm. Lạ lùng thay, khi thằng Thủy cất giọng lại xuất hiện theo những cơn gió vi vu, kéo theo những chiếc lá khô bay bay, một sự kết hợp vô cùng hoàn hảo. Bà 6 đứng khựng người dậy mắt nhìn chăm chăm về phía cái cây, với một người mê tín như Bà 6 thì có lẽ Bà đang tin mình gặp ma thật. Thiên thời địa lợi thúc đẩy tôi tiếp bước bằng những tiếng kêu la:"oan ức quá, oan ức quá" tôi bắt chước theo từ đĩa truyện ma mà anh tôi hay nghe. Thằng Cẩn giả tiếng quạ kêu, còn Thằng Tí vẫn ngồi im theo chỉ dẫn, bảng cửu chương thì Tí đọc vanh vách chứ mấy cái trò này nó ngay thơ, trong trắng như tờ giấy kiểm tra của tôi. Cả 4 chúng tôi cùng phối hợp nhịp nhàng uyển chuyển, nghe thấy thảm thiết vô cùng. Đến nước này Bà 6 hét toáng lên:" Làng xóm ơi, có ma" nhưng ở giữa cánh đồng này ai nghe, Bà chạy toáng loạn trong sự sợ sệt. Chúng tôi vỡ òa trong niềm vui như làm được điều gì đó lắm, bằng những tiếng cười và những cái đập tay ăn mừng, một sự trả thù ngọt ngào dành cho Bà 6.

Chúng tôi bước đều đến chiến trường của Bà 6 trong tiếng cười thúc thít, thì mới phát hiện ra Bà 6 sợ đến độ bỏ của chạy lấy người. Đôi dép cũ kỹ cùng cái liềm nằm vất vưỡn trên bó cỏ đang cắt dở. Thằng Cẩn nảy ra ý định chiếm lĩnh chiến lợi phẩm ấy để đi đổi cà-rem của Ông 9 hay đứng ở đầu làng. Vì cái bụng đói meo và chúng tôi mệt nhũ nhựi nên chúng tôi đều đồng ý tán thành cho một ý kiến không hề tồi lúc bấy giờ. Trong giỏ cà-rem của Ông 9 chỉ còn lại vỏn vẹn 4 cây, đã được chúng tôi quy đổi bằng đôi dép và liềm một cách nhanh gọn và dứt khoát. Hình như Ông 9 đã quá hời trong thương vụ này, nhưng chúng tôi cũng chẳng có lỗ thiệt gì nên cả 2 bên đều vui. Cây cà-rem ấy thật ngon lành một cách tuột độ, chúng tôi ngồi cạnh con đê để thưởng thức một cách trọn vẹn.

Chúng tôi chia tay nhau ở ngã ba, sắp đến nhà tôi liên tưởng một bữa ăn đạm bạc hôm nay do Mẹ tôi nấu, vì hôm nay Ba tôi có dịp về thăm nhà. Tôi hào hứng nhảy qua cái hàng rào hoa dâm bụt vào nhà thì tôi nhận ra cái bóng dáng ai đó quen thuộc đang nói chuyện với Ba Mẹ tôi trong phòng khách. Nhìn thoáng qua khe cửa tôi thấy vẻ mặt của Ba tôi trông rất giận dữ và đáng sợ, tôi hy vọng rằng câu chuyện họ nói không phải là của chúng tôi vừa mới gây ra. Nhưng cuộc sống mấy khi có phép mầu, tôi nghe loáng thoáng có tên Tí, Thủy, Cẩn và tôi được đề cập đến trong câu chuyện của họ, nên tôi không còn đủ bình tình để nghe tiếp. Chiến tích hào hùng của chúng tôi đã bị thổi bay để nhường cho sự lo sợ mà tôi biết chắc mình sẽ bị trộn trận no đòn từ Ba tôi. Tôi mới chợt nhớ Ông 9 đổi cà-rem là em ruột của Bà 6, có thể họ đã biết hết mọi mưu mẹo của chúng tôi, cộng thêm cái giọng khàn đặc, chua lè đặc trưng của tôi làm cho Bà tìm được manh mối dễ dàng. Tranh thủ lúc gia đình tôi chưa phát hiện tôi đã về nhà nên tôi đã chuồn thật nhanh theo hướng dàn mướp theo lối thẳng chạy đến nhà của Cẩn. Tôi bất ngờ khi thấy Cẩn vẫn đang tắm phía sau nhà một cách ung dung, tự tại như chưa có chuyện gì xảy ra, chắc Bà 6 đi tiện đường nên đã ghé nhà tôi trước. Tôi gọi Cẩn bằng cái huýt sáo quen thuộc, hắn chạy ra, nghe tôi nó vài câu hắn đã hiểu chuyện bèn vơi lấy bộ bộ mặc vào và ra hiểu phải đến nhà Thủy ngay bây giờ. Cả 3 cùng bàn kế hoạch để tránh trận đòn roi đang chờ, thì ý kiến bỏ nhà ra đi của Thủy để được tán thành một cách tuyệt đối, vì đó là con đường duy nhất để chúng tôi thoát thân. Cả 3 khẩn trương kéo đến nhà Tí để đưa nhau đào tẩu, từ đằng xa chúng tôi đã nghe tiếng roi vọt của Ba Má Tí, kèm theo hàng tá câu răn đe cấm cản không được giao du với nhóm chúng tôi nữa. Cả 3 tuyệt vọng trong việc giải cứu cho Tí, nhưng chúng tôi không còn thời gian nữa, phụ huynnh sẽ tóm được chúng tôi mất., chúng tôi phải đi ngay bây giờ,"xin lỗi Tí". Bộ thiếu Tí là một mất mác vô cùng to lớn, Thiếu đi một người thông minh để đưa ra sáng kiến giải quyết sự tình cho khó khăn phía trước.

Ngọn núi cuối làng là địa điểm chúng tôi chọn để ẩn nấu, chúng tôi đang từng bước tiến đến đó với khung màn đen tối bao trùm. Vất vả trèo lên hòn đá cao, ngồi bệt xuống thở phào nhẹ nhõng sau khi trải qua cuộc hành trình đầy hiểm trở. Chúng tôi chia nhau ra, người đi kiếm cuổi, người hái lá, bẻ cây để dựng một cái lều, đêm nay chúng tôi sẽ ngủ tại đay. Ngọn lửa từ cái bật của thằng Thủy đã nhen nhóm lên một bếp lửa đỏ rực, bên cạnh cái lều sụp sệch bằng lá cây. Ngồi trong chiếc lều, đưa tay hơ lửa để giữ ấm cho cơ thể, lòng chúng tôi hớn hở khi vừa thoát được trận đòn từ tay phụ huynh. Ngồi bàn về tương lai, chúng tôi đều mơ về việc làm ra được một khối tài sản kếch xù ở ngọn núi này, sau đó trở về làng trong sự ngỡ ngàng của dân làng. Tìm gặp Tí là việc đầu tiên, hỏi thăm Tí có ổn không? và đón Tí đến ở cùng và cho Tí ăn những món ăn thượng hạng để bù đắp cho Tí những ngày tháng qua. Nhắc đến ăn, chúng tôi nhớ ra cái bụng đang trống trơn, hồi chiều đến giờ chỉ lót dạ bằng cây cà-rem bé tẹo của Ông 9. Chúng tôi phải chia nhau ra đi kiếm thức ăn, mà ở cái đồi núi hoang sơ đầy sỏi đá và cây cổ thụ này thì đào đâu ra cái ăn để nhét vào bụng bây giờ? Đang loay hoay tìm giải pháp thì cơn mưa bỗng nặng hạt, túp lều sơ sài đổ sập xuống, bếp lửa tắt lịm đi, chỉ còn lại cảm giác hụt hẫng, bế tắc trong cái rung cầm cập. Quần áo, căn lều, những cây củi, cái bật lựa cũng đã ướt nhẹp, chúng tôi rơi vào đường cùng. Cơn gió lạnh thổi ngang qua, sấm chớp, pha trộn với tiếng dế, tiếng ếch làm sự liên tưởng về những câu chuyện ma bắt đầu nãy lên trong đầu chúng tôi. Bây giờ thì chúng tô đang thực sự trải qua cảm giác của Bà 6 lúc chiều, giá như thời gian quay lại, thì chúng tôi đã rút lại cái màn dọa ma đó với Bà 6. Nhưng cuộc sống này làm gì có chuyện giá như, bây giờ chúng tôi phải lãnh chịu cực hình ở nơi đây với cảnh tượng ớn lạnh này.nhìn về phía ngôi làng nhỏ với chỉ vài cái đèn loe lói, im lặng, ôm chầm nhau để giữ ấm, nhìn về phía ngôi làng nhỏ với chỉ vài cái đèn loe lói chúng tôi cố quên đi cái lạnh, cái đói, cái sợ như thế đó. Thủy tự dưng khóc òa lên, đúng lúc tôi cần sự lì lợm, mạnh mẽ từ nó thì nó lại nũng nịu, yếu mềm như cái tên của nó vậy. Giá mà ngày nào nó cũng như vậy thì Ba Má nó khác nào trúng số độc đắc, nó khóc lóc này làm cả tôi và Tí cũng khóc theo một cách không thể kìm chế. Lúc này tôi cảm thấy nhớ nhà, bình thường trời mưa thì tôi đã chui vào cái giường tuy không sang trọng nhưng ấm áp với một cái bụng no nê. Sự kiên nhẫn cho kế hoạch bỏ đi của chúng tôi đã hết, chắc bây giờ đang là 10h đêm, chúng tôi quyết định về nhà, sẽ quỳ ngoan ngoãn trước phụ huynh, và gồng mình chịu những trận roi vọt ấy. Chúng tôi chia tay nhau, nhà ai nấy về trong sự lo sợ.

Khi tôi thấp thoáng đến sân, hình ảnh mẹ tôi chạy vội thật nhanh ôm chằm lấy tôi với nét mặt chẳng hề có một chút căm phẫn. Thay vào đó là giọng nói đầy triều mến của Mẹ thường ngày:"Con đi đâu bây giờ mới về, Ba và các anh sốt ruột đang đi tìm con". Tôi vẫn chưa biết mở miệng như thế nào, thì Mẹ đã bế tôi vào nhà, lúc này tôi cảm nhận rất rõ hơi ấm của mẹ, là thứ mà không có gì bằng. Tôi tắm nước ấm, thay đồ mới, và được ngấu nghiến chén cơm nóng hổi, với miếng cá ngon nhất trần gian bởi mẹ tôi nấu. Nhưng trong lòng tôi vẫn chưa hết lo sợ vì vẫn chưa vượt qua được cái ải tra xử của Ba tôi. Đúng lúc ấy, Ba và các anh của tôi cũng đã về với những bộ độ lắm lem, và cái đèn pin trên tay. Tôi đã sẵn sàng tâm lí để tự động tiến lại góc nhà, vị trí quen thuộc mà Ba luôn bắt tôi quỳ mỗi khi mắc tội, thì bỗng dưng có cánh tay ai đó níu kéo tôi lại. Tôi đứng giữa Ba và các anh với vô vàng lời hỏi hang, lúc này tôi thấy ân hận vì lỗi lầm của mình đã làm liên lụy đến gia đình. Hôm nay, tôi cảm nhận được sự dịu dàng, nhân hậu đến là thường từ Ba với những lời giảng dạy, hóa ra Ba luôn yêu con.

Mặt trời đã lên cao, tôi thức dậy tận hưởng những tiếng chin ríu rít trong vườn, Ba Mẹ và các anh đã ra đồng lúc nào mà tôi chẳng hay. Tôi chạy nhanh đến nơi tập hợp quen thuộc thì đã thấy Cẩn và Thủy ở đó rồi. Tôi bất ngờ thay chẳng có đứa nào phải chịu đòn roi từ phụ huynh, nên trông đứa nào cũng yêu đời cao độ. Nhưng nhân vật Tí vẫn chưa đến, có lẽ qua vụ này, chắc Ba Má nó cấm không được chơi với chúng tôi nữa, tôi hụt hẫng vô cùng. Đến lúc chúng tôi đình đi về thì Tí hốt hoảng chạy đến, trên tay cầm những túi bột canh từ mì gói. Tặng cho từng đứa như lời xin lỗi chân thành vì hôm qua không đi với chúng tôi được, nhưng tôi giải thích:" Giữa chúng ta không có lỗi với nhau, nhưng có lỗi cực nặng với Bà 6". Tí tiếp thêm, tối hôm qua phụ huynh của chúng tôi đã đến nhà Bà 6 để xin lỗi và đền bù cái liềm lẫn đôi dép cho Bà trong sự vui vẻ tha thứ của Bà 6. Chúng tôi thấy mình phải tiếp bước đến tạ tội với Bà 6, bơi vì chúng tôi đã rất ân hận và phải chịu hậu quả khôn lường. Ánh mắt của Bà 6 trở nên diu dàng, đằm thắm biết bao so với mọi khi, Bà không để bụng chúng tôi, coi đó như một trò đùa của lứa tuổi học trò. Nhưng với tôi, từ nay có cho tiền tôi cũng không dám đùa cợt như vậy thêm một lần nào nữa. Bà 6 cho chúng tôi mỗi đứa một trái xoài như một lời tha thứ chắc nịch trước khi chúng tôi chào Bà 6 để cáo lui. Mọi hôm bột canh của Tí là một món ăn xa xỉ của trẻ em chúng tôi, hôm nay đi kèm với những trái xoài của Bà 6 nữa thì đúng là thượng hạng.

Nắng đã thưa dần, cánh phượng nay cũng tàn phai, chỉ còn lại lác đác những tiếng ve yếu ớt, vaayjk là một mùa hè nữa lại sắp trôi qua. Chúng tôi ngồi bệt trên hòn đá hôm trước, ngắm nhìn ngôi làng mình với khung canh tươi đẹp, yên bình phản chiếu vào mắt chúng tôi. Đưa tay vẫy chào mùa hè đầy dãy những kỷ niệm buồn vui, ngày mai chúng tôi bước vào năm học mới, viết vào trang giấy nhỏ những điều ước nguyện cho năm học mới thật nhiều thành công, để cùng dựng xây mái làng thân yêu.