“Make in Vietnam” hay “Made in Vietnam”?

 “Make in Vietnam” là đúng hay sai?



Nếu bạn đang đọc bài viết này thì nhiều khả năng bạn nghĩ “Make in Vietnam” là sai. Vì từ trước đến nay chúng ta chỉ quen nhìn thấy cụm từ “Made in Vietnam” được in trên các sản phẩm được sản xuất và gia công tại Việt Nam.

Tuy nhiên, nếu đơn giản như vậy thì bài viết này có lẽ đã không ra đời. Hãy đọc tiếp.

“Make in Vietnam” từ đâu mà có?

Quay trở lại khoảng giữa năm 2019, bộ trưởng bộ TT&TT khi đó là ông Nguyễn Mạnh Hùng, đã phát động chiến lược “Make in Vietnam” tại Diễn đàn quốc gia Phát triển doanh nghiệp công nghệ Việt Nam.

“Make in Vietnam” hay “Made in Vietnam”? 3a_rtr10

Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng

Kể từ đó, thông điệp “Make in Vietnam” liên tục được nhắc lại và củng cố thông qua các sự kiện, diễn đàn xoay quanh phát triển doanh nghiệp công nghệ và kinh tế số của Việt Nam do bộ TT&TT tổ chức.

Giới báo chí cũng liên tục đưa tin về những sự kiện này và cụm từ “Make in Vietnam” được bàn luận nhiều hơn trên mạng xã hội. Nhiều người cảm thấy khó chịu với cách dùng từ này. Họ cho rằng đó là lỗi ngữ pháp, lỗi đánh máy, lỗi $@#%#&$^%*, và cho rằng “Made in Vietnam” mới chính xác.

Tôi không đồng tình với điều này.

Make in Vietnam nghĩa là gì?

Có nhiều luồng quan điểm. Trước tiên hãy xem giải thích “chính chủ” của bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng về cụm “Make in Vietnam”.

Bộ trưởng bộ TT&TT Nguyễn Mạnh Hùng. đã viết:“Make in Vietnam” có hàm ý rộng hơn made in Vietnam, thông qua đấy truyền tải nội hàm phát triển doanh nghiệp Việt Nam, ý muốn nói là sáng tạo tại VN, thiết kế tại VN, làm ra tại VN, khác với khái niệm doanh nghiệp KHCN bấy lâu nay. Tại Diễn đàn này, sẽ có hàng loạt kiến nghị, đề xuất được đưa ra để hình thành một chiến lược về phát triển doanh nghiệp công nghệ cho Việt Nam.

Có thể nói “Made in Vietnam” xưa nay đã là một niềm tự hào quốc gia, khi các sản phẩm Made in Vietnam được săn đón và đánh giá cao tại nhiều quốc gia, lục địa.

Tuy nhiên có một sự thật đáng buồn là ngày càng có nhiều sản phẩm mặc dù đóng mác Made in Vietnam, nhưng đa phần các công đoạn sản xuất, thiết kế, sáng tạo lại được thực hiện ở các quốc gia khác (điển hình là Trung Quốc), và chỉ được lắp ráp hoặc gia cố bước cuối cùng tại Việt Nam. Những sản phẩm này có 2 đặc tính:

  • Không mang lại nhiều lợi ích cho kinh tế Việt Nam, cũng như tiềm lực phát triển cho các sản phẩm Việt

  • Nếu chất lượng không đủ tốt, sẽ làm xấu hình ảnh và uy tín của các sản phẩm Việt Nam nói chung


Như vậy, có thể thấy cụm từ “Make in Vietnam” được bộ trưởng sử dụng để truyền đạt một phong trào khởi nghiệp, sản xuất cho các doanh nghiệp công nghệ Việt Nam nhưng dưới một tinh thần mới: Sản phẩm làm ở Việt Nam, nhưng phải thuần Việt.

Tức là các công đoạn sáng tạo quan trọng nhất nên được thực hiện ở Việt Nam. Chỉ có như vậy mới khiến kinh tế & công nghệ của Việt Nam thực sự bứt phá so với các quốc gia khác.

“Make in Vietnam” hay “Made in Vietnam”? Vnpgia10

Thông điệp “Make in Vietnam” liên tục xuất hiện tại các hội thảo, diễn đàn kinh doanh, công nghệ

Phía trên là ý tưởng của bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng, theo cách lý giải của tôi.

Ở góc nhìn của tôi, tôi nghĩ hầu hết mọi người phản đối cụm Make in Vietnam đều nhầm lẫn về 2 cụm từ này.

Make in Vietnam và Made in Việt Nam: Câu nào đúng?

Câu trả lời là cả 2 đều đúng. Tại sao?

  • Make in Vietnam là một khẩu hiệu chiến lược (strategic slogan)

  • Made in *Country* là một thông số sản phẩm (product index)


Nói dễ hiểu hơn thì người ta dùng 2 từ này trong 2 hoàn cảnh khác nhau, với những ý nghĩa biểu đạt khác nhau.

  • Nói hoặc viết Make in Vietnam để truyền đạt tinh thần khởi nghiệp công nghệ quốc gia, tăng cường sản xuất, xây dựng các sản phẩm tinh hoa của người Việt để vươn ra thế giới. Thông điệp này dành cho chủ doanh nghiệp, những người Việt đã – đang – sẽ xây dựng các sản phẩm chất lượng.

  • Made in Vietnam, tương tự như Made in China hay Swiss Made, là một thông số sản phẩm, thường được in trên các sản phẩm, để cho người dùng sản phẩm (hay người mua hàng) biết sản phẩm đó được sản xuất tại Việt Nam. Cũng có thể coi đây là một bảo chứng chất lượng cho những sản phẩm nổi tiếng được sản xuất bởi người Việt như giày dép, đồ thời trang, .v.v...


Như vậy, cụm từ “Make in Vietnam”, theo ý nghĩa và cách sử dụng của nó, không hề sai ngữ pháp như nhiều người vẫn lầm tưởng. Trái lại, đây là một thông điệp hết sức ý nghĩa và mang tính chiến lược trong phát triển tiềm lực kinh tế, công nghệ quốc gia.

Ngoài lề, tôi đã định viết bài này từ ngay khi cụm từ “Make in Vietnam” hot rần rần trên mạng xã hội và bị một số không ít người lôi ra chê bai và tỏ vẻ khó chịu với cụm từ đó, vì họ cho rằng đó là cụm từ sai. Nhưng tới hôm nay tôi mới viết, lí do phần vì nhìn thấy bài viết này (ảnh dưới) giải thích chưa thực sự thỏa đáng, phần vì lười.

“Make in Vietnam” hay “Made in Vietnam”? Image10

Bài viết đăng trên MXH khiến tôi ngứa

P/S: Nếu bạn đọc hình trên rồi thì tôi cũng xin nói nốt quan điểm về sự chưa thỏa đáng ở bài giải thích trên: Chẳng có phép chơi chữ nào ở đây cả. Các bạn viết content nên ngừng lạm dụng biện pháp chơi chữ để giải thích cho những hiện tượng các bạn không hiểu. Chơi chữ là biện pháp nghệ thuật, không phải chìa khóa vạn năng.

Bài trừ tệ nạn mê tín dị đoan dịp đầu năm

 Tết là mở đầu của một năm mới, ai cũng mong mình sẽ đạt được những điều may mắn trong năm, do đó có những phong tục ngày Tết dường như đã ăn sâu bám rễ trong đời sống, trở thành một phần không thể thiếu, thành một thói quen trong văn hóa của người Việt. Dịp đầu xuân mới là thời gian mà các hoạt động mê tín dị đoan trở nên khó kiểm soát; tập trung chủ yếu trong các lễ hội, núp dưới danh nghĩa phong tục cổ truyền, tín ngưỡng dân gian như: xin xâm, hái lộc, xem bói, xem tướng, xem tử vi,... được người này bắt chước người kia và được thực hành một cách máy móc, không có sự phân biệt rõ đâu là tôn giáo, tín ngưỡng, đâu là mê tín dị đoan. Nhiều năm trở lại đây, việc xem bói đầu năm trở thành một nhu cầu của đông đảo người dân, đặc biệt là phụ nữ. Dường như ai cũng tò mò muốn biết những vấn đề chính của bản thân và gia đình trong cả một năm. Thế nên những người đi xem bói đủ mọi thành phần, lứa tuổi, nghề nghiệp khác nhau. Có người già, người trẻ, có nông dân, công nhân, có công chức, viên chức... Đặc biệt, người làm kinh doanh buôn bán thì nhu cầu xem bói lại càng cao. Nắm bắt được tâm lý của người dân, nhiều thầy bói ngang nhiên hành nghề hoặc đối tượng giả danh thầy bói để lừa lọc những người nhẹ dạ, cả tin. Một số kẻ lợi dụng sự linh thiêng, thời điểm đông đúc những ngày đầu năm tại các đền, chùa để xem bói kiếm tiền.

Khá nhiều người, sau khi đi xem bói về đã chi ra một khoản tiền lớn, có khi hàng chục, hàng trăm triệu, thậm chí vay mượn tiền để làm lễ giải hạn. Họ tin rằng làm lễ giải hạn càng to thì những sự đen đủi sẽ mất đi và tài vận, may mắn sẽ đến nhiều hơn. Nhiều người, dù ít cực đoan hơn, nhưng sau khi đi xem bói về lại bi quan về cuộc sống, sao nhãng công việc, ảnh hưởng đến sức khỏe lẫn đời sống gia đình. Ngoài ra, cách đây vài năm, việc một giáo phái có tên "hội thánh đức chúa trời" xuất hiện và lan nhanh trong cộng đồng đã khiến dư luận không khỏi ngỡ ngàng. Ðiều đáng nói là giáo phái này tuyên truyền những giáo lý đi ngược lại văn hóa, đạo lý của người Việt Nam như bất hiếu, phủ nhận vai trò của các bậc sinh thành, đập bát hương tổ tiên, vô trách nhiệm với gia đình, người thân...
Để ngăn chặn và loại bỏ những biểu hiện mê tín dị đoan giúp tạo môi trường cho việc thực hành tín ngưỡng bảo đảm các giá trị tốt đẹp trong đời sống, cần xác định việc ngăn chặn, bài trừ mê tín dị đoan là việc làm cần thiết và thường xuyên, để xã hội ngày càng phát triển, bảo đảm những giá trị chân, thiện, mỹ, những giá trị nhân văn. Mỗi tổ chức, cá nhân hiểu và thực hiện tốt vai trò, trách nhiệm của mình sẽ là phương cách tốt nhất giúp loại bỏ nạn mê tín dị đoan trong đời sống, đẩy mạnh công tác tuyên truyền để nhân dân tham gia hoạt động cộng đồng, phân biệt rõ giữa tôn giáo, tín ngưỡng với mê tín dị đoan, tệ nạn xã hội để các lễ hội đầu năm diễn ra vui tươi, lành mạnh, tiết kiệm, văn minh; qua đó, vừa tôn vinh được các giá trị truyền thống trong cuộc sống hiện đại, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ và sáng tạo văn hóa của nhân dân.
L.H