Lại nhớ “Lá thư tiên tri” từ Thành cổ Quảng Trị

 



Minh Ngọc - Văn Út



 

Trước khi hy sinh, anh đã để lại những dòng chữ như tiên tri gửi đến mẹ, vợ và người thân về linh cảm ngày mình sẽ mãi mãi nằm lại với vùng đất Quảng Trị anh hùng. Đó là trong một lá thư thiêng của chàng sinh viên trẻ, liệt sĩ Lê Văn Huỳnh (sinh viên năm 4, Khoa Hầm cầu, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, trú tại huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình) để lại đất này hơn 40 năm trước.

Lá thư đẫm nước mắt từ Thành cổ

Bảo tàng Thành cổ Quảng Trị đang lưu giữ và trưng bày nhiều di vật, hình ảnh... của các chiến sĩ đã anh dũng hy sinh. Xúc động và “lấy đi nhiều nước mắt” của du khách đến đây chính là bức thư được trưng bày trong lồng kính của liệt sĩ Lê Văn Huỳnh (quê xã Lê Lợi, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình) gửi cho gia đình trong những ngày chiến đấu ác liệt bảo vệ Thành cổ Quảng Trị.

Chúng tôi thực sự không ngăn được những dòng nước mắt khi lần đầu tiên được lắng nghe câu chuyện đầy xúc động về những dòng tâm thư của liệt sĩ Lê Văn Huỳnh để lại trước ngày ra đi. Bức tâm thư với những trang viết đầy lắng đọng của người chiến sĩ gửi đến người mẹ thân yêu, người vợ dịu hiền và ý thức trách nhiệm trước vận mệnh Tổ quốc.

Một góc thành cổ Quảng Trị ngày nay.

Bao nhiêu người về với Thành cổ Quảng Trị đã rơi lệ, đã khóc vì cảm động trước những tình cảm mà người lính dành cho gia đình, khâm phục tinh thần quả cảm, bất khuất và kinh ngạc trước sự linh thiêng của linh hồn người liệt sĩ. Dường như trước khi đến chiến trường Quảng Trị, anh Huỳnh đã linh tính rằng sẽ có ngày đất nước ta thống nhất và ngày đó là ngày anh vĩnh viễn nằm lại với đất. Nhưng, anh vẫn khắc khoải, day dứt lỡ mai đây “Nam Bắc sum họp một nhà” thì cũng đừng quên nấm mồ của anh: “Nếu mai đây bạn về chốn cũ/ Tìm giúp tôi người mẹ thương yêu/ Nói với người rằng vì nghĩa vụ/ Đứa con thơ đã thác một chiều”. Bức thư được xem như là bản “di chúc” thiêng liêng của liệt sĩ Lê Văn Huỳnh, viết từ chiến trường Thành cổ Quảng Trị trong 81 ngày đêm khói lửa được gia đình, bạn bè và đồng đội cất giữ và trao tặng cho Bảo tàng Thành cổ Quảng Trị sau 40 năm. Qua thời gian, Trung tâm Bảo tồn di tích và danh thắng tỉnh Quảng Trị đã tiến hành phục chế, sao lại bức thư như nguyên bản và tổ chức hành hương về quê hương Kiến Xương (Thái Bình) để trao tặng lại cho gia đình. Bức thư được liệt sĩ Lê Văn Huỳnh dự cảm về ngày mất của mình. Anh viết ngày 11-9-1972, trước ngày anh hy sinh đúng 3 tháng 20 ngày (ngày hy sinh 2-1-1973). 

Ẩn sâu trong 10 trang thư hoen ố màu thời gian ấy là những câu chuyện cảm động của những lời dự cảm về cái chết, ngày ra đi đến với mình, là tình thương gửi đến mẹ yêu, là nghĩa vợ chồng sâu đậm, tình cảm của những người thân trong gia đình và trên hết là lý tưởng “Tổ quốc cần sẵn sàng hiến thân mình” mà không chút đắn đo. Bức thư như một thông điệp gửi đến mai sau hãy biết “sống đẹp, sống có ích”, sống có lý tưởng, ước mơ và có giá trị giáo dục không những cho hôm qua, hôm nay và mãi mãi cho muôn đời sau.

Phút xúc động bên bức thư thiêng của liệt sĩ Lê Văn Huỳnh.

Theo anh Lê Lương Thọ, Trưởng Ban Quản lý Bảo tàng Thành cổ Quảng Trị cho biết, mỗi kỷ vật, mỗi bức thư trong bảo tàng này đều là thấm đẫm trong mình máu và nước mắt của biết bao thế hệ với những số phận nghiệt ngã cuộc đời dù đi qua chiến tranh, đi qua bao lần sinh tử. Bức thư của chàng tân kỹ sư, liệt sĩ Lê Văn Huỳnh đã được đồng đội tìm thấy trong ba lô ngày anh hy sinh, được gia đình cất giữ đến tận hôm nay. Năm 2002, nhân kỷ niệm 30 năm ngày giải phóng Quảng Trị, bức thư được gia đình trao tặng cho Bảo tàng. Năm 2012, sau thời gian phục chế, sao bản thành công, Bảo tàng Thành cổ Quảng Trị đã trao trả lại cho gia đình.

Lá thư thiêng dự cảm về ngày ra đi

Mở đầu bức thư anh linh cảm rõ ngày mình sẽ ra đi nên trách mình chưa làm tròn chữ hiếu, đạo con: “Con ngồi đây biên vài dòng chữ cuối cùng trước khi đã “đi nghiên cứu bí mật trong lòng đất” thì gia đình khỏi thấy đó là điều đột ngột... Mẹ kính mến! Lớn lên trong tay mẹ từ khi còn trứng nước, chưa đền đáp được công ơn to lớn đó của mẹ thì đứa con út của mẹ đã phải đi thăm bố con rồi. Thư này tới tay mẹ chắc mẹ buồn lắm. Lòng mang nặng đẻ đau, giọt máu đào hơn ao nước lã, lá vàng còn ở trên cây lá xanh rụng xuống trời ơi hỡi trời...”. Gửi đến người mẹ hiền hậu nơi quê nhà với tình cảm rất thực của người con phương xa, anh viết: “Mẹ kính mến! Con đi mẹ ở lại trăm tuổi bạc đầu, coi như con lúc nào cũng nằm bên mẹ, mẹ đừng buồn cho linh hồn con được thỏa mái bay đi... Thôi mẹ nhé đừng buồn, coi như con đã sống trọn đời cho Tổ quốc”.

Bức thư sau khi được phục dựng rõ nét từng chữ, hiện đang trưng bày tại Bảo tàng Thành cổ Quảng Trị.

Trong những dòng di thư, bên cạnh những dòng thư viết vội gửi đến người mẹ già yếu, anh cũng dành tình cảm cho người vợ mới cưới, cho người thân với những gửi gắm, dặn dò tha thiết. Tình nghĩa vợ chồng thủy chung, son sắt luôn hằn sâu trong tâm thức. Anh nhập ngũ vào chiến trường Quảng Trị khi vừa làm đám cưới với chị Đặng Thị Xơ chỉ 6 ngày. Kể từ đó cho đến nay (2002), chị đã có tròn 30 năm đằng đẵng thờ chồng. Anh viết: “Em sẽ đọc bức thư này cho mọi người trong gia đình nghe trong buổi lễ truy điệu anh. Cho anh gửi lời chúc sức khỏe đến tất cả những người quen thân thuộc trên quê hương trong buổi lễ truy điệu lịch sử này... Thôi nhé em đừng buồn, khi được sống trong hòa bình hãy nhớ tới anh. Nếu thương anh thực sự thì khi hòa bình có điều kiện vào Nam lấy hài cốt anh về. Đường đi như sau: Đi tàu vào thị xã Quảng Trị, qua sông Thạch Hãn là nơi anh đã hy sinh khi đưa hàng qua sông. Từ thị xã ngược qua cầu hỏi thăm về Nhan Biều 1, sẽ thấy tấm bia ghi dòng chữ tên anh đục trên mảng tôn...”.

Không những thế, anh còn tiên đoán được ngày mình hy sinh cũng như cái nơi mà anh sẽ ngã xuống, địa điểm đồng đội sẽ chôn cất. Trong bức thư viết trước ngày mất, người chiến sĩ trẻ Lê Văn Huỳnh đã dự cảm chính xác về ngày 2-1-1973 anh sẽ hy sinh. Đây cũng chính là ngày tròn 1 năm kỷ niệm ngày cưới của anh với người vợ hiền Đặng Thị Xơ (quê nhà Thái Bình). Không dừng lại ở đó, sự linh cảm kỳ diệu của bức di thư được anh viết rất chi tiết về ngày mình ra đi. Trong thư anh Lê Văn Huỳnh đã ghi rõ thời gian mất, địa điểm nơi mình hy sinh. Cũng chính nhờ vậy mà mà gia đình đã tìm được hài cốt của anh sau 30 năm lưu lạc (1972-2002).

Bên trong bảo tàng còn lưu giữ nhiều hiện vật, kỷ vật của các liệt sĩ đã hi sinh trong 81 ngày đêm khói lửa tại nơi này.

Xuyên suốt bức thư, anh đã nhiều lần nhắc đến ngày hi sinh và nơi anh sẽ nằm xuống. Sau này, hòa bình lập lại, cũng nhờ bức thư này đồng đội, người thân đã tìm thấy hài cốt anh nằm “ẩn mình” bên dòng sông Thạch Hãn. Anh vạch đường và kể khá tỉ mỉ về nơi mình sẽ yên nằm sau này: “Khi hòa bình có điều kiện vào Nam lấy hài cốt anh về. Đường đi như sau: Đi tàu vào thị xã Quảng Trị qua sông Thạch Hãn là nơi anh hy sinh... Nếu tính xuôi theo dòng nước thì mộ anh ở cuối làng!”.

Tôi chưa có dịp được gặp người mẹ và người vợ của liệt sĩ Lê Văn Huỳnh ngoài đời, nhưng tôi vẫn có thể tưởng tượng được hình ảnh người mẹ đợi con, vợ đợi chồng nhuốm lên dáng người hanh hao, khô gầy và đôi mắt buồn thăm thẳm, nỗi buồn khắc khoải chờ mong mấy chục năm dài đằng đẵng của 2 người phụ nữ nơi quê nhà ấy. Anh Lê Lương Thọ hồi tưởng lại ngày anh cùng đồng nghiệp của Bảo tàng về quê hương Thái Bình trao lại bức di thư của anh Lê Văn Huỳnh: “Mỗi lần nhớ chồng, chị Xơ lại đem bức thư ra đọc và không biết bao lần chị đã thức trắng đêm khóc vì nhớ thương... như là một kỷ vật vô cùng thiêng liêng. Chị từng tâm niệm: “Anh Huỳnh hy sinh, đó là nỗi đau lớn nhưng tôi vẫn tự hào về một người chồng đã hy sinh góp phần cho độc lập tự do của Tổ quốc. Về những gì anh đã viết trong bức thư. Vì vậy, tôi tâm niệm sẽ sống sao cho xứng đáng với sự hy sinh của anh, để linh hồn anh được thanh thản!”.

Bức thư của liệt sĩ Lê Văn Huỳnh đã trở thành sức mạnh giúp hai mẹ con chị Xơ vượt qua mất mát, đau thương và những khó khăn của cuộc sống, để vững vàng kiên trinh. 40 năm đã qua đi kể từ khi anh hy sinh, chị Xơ như một con thoi, cần mẫn “dệt” những niềm tin mãnh liệt vào cuộc sống, vào nỗi đợi chờ. Và rồi, liệt sĩ Lê Văn Huỳnh sau mấy mươi năm nằm lại đã được đưa về an táng tại nghĩa trang quê nhà - xã Hồng Thái, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.

Đài tưởng niệm những sinh viên - chiến sĩ đã hi sinh trong 81 ngày đêm khói lửa năm 1972.
Chiến tranh đã qua đi gần nửa thế kỷ, dẫu bom đạn có thể giết chết sinh mệnh con người nhưng không thể tiêu diệt được ý chí những người chiến đấu vì một lý tưởng đã chọn cho dân tộc được hòa bình. Hàng ngàn người đã ngã xuống, xương máu đã lẫn vào đất, vào sông, hóa thành cây cỏ, thành phù sa bờ bãi. Vì thế mỗi người hôm nay thấm hơn sự hy sinh cao cả của quân dân Quảng Trị cùng biết bao chiến sĩ trên mọi miền đất nước. 
 
(Theo Báo CAND)

Hồ sơ mật: Phương Tây nhiệt tình hỗ trợ Hitler tiêu diệt Liên Xô

 

Bỏ mặc lời kêu gọi của Liên Xô, phương Tây hỗ trợ cho Hitler bằng nhiều hình thức khác nhau với hy vọng y sẽ phát động chiến tranh tiêu diệt Liên Xô.
 ******************

VOV.VN xin giới thiệu bài viết của cây bút Nga Ekaterina Blinova về vấn đề này:


Hiệp ước Xô-Đức được ký kết giữa Liên Xô và nước Đức Quốc xã vào ngày 23/8/1939. Hiệp ước này hiện đang được các “chuyên gia” và hệ thống truyền thông chủ lưu của phương Tây khai thác để tố cáo Liên Xô đã “câu kết” với trùm phát xít Hitler và “phản bội” các đồng minh Pháp và Anh.

Tuy nhiên các bằng chứng lịch sử lại cho ta câu chuyện khác...

Ngoại trưởng Liên Xô Molotov (ngồi) ký Hiệp ước Không Xâm lược lẫn nhau giữa Đức và Liên Xô ở Moscow ngày 23/8/1939, chỉ vài ngày trước khi nổ ra Thế chiến 2. Phía sau ông là Lãnh tụ Liên Xô Stalin. Ảnh: Bộ Chiến tranh Đức.

Vào ngày 23/8/1939, Liên Xô và nước Đức Quốc xã đặt bút ký vào một Hiệp ước Không Xâm lược lẫn nhau, còn được biết đến với cái tên Hiệp ước Molotov-Ribbentrop.

Tài liệu này hiện vẫn gây nên các tranh cãi sôi nổi, và tạo lý do để phương Tây kết tội Liên Xô “cấu kết” với Hitler vào đêm trước Thế chiến thứ 2.

Hơn nữa, kể từ năm 2008, cứ vào ngày này các quốc gia châu Âu lại kỷ niệm “Ngày châu Âu Tưởng nhớ các Nạn nhân của chủ nghĩa Stalin và chủ nghĩa Quốc xã”.

Trong một bài viết cho Quỹ Văn hóa Chiến lược, Giáo sư Michael Jabara Carley của Đại học Montreal (Canada) nhấn mạnh: “Đó là một sự kiện tổ chức hàng năm vào ngày 23/8, được các nhà tuyên truyền “sợ Nga” ở phương Tây ngóng chờ với mong muốn nhắc nhở chúng tôi về vai trò “xấu xa” của Liên Xô khi khởi động Thế chiến thứ 2.

Tất nhiên, thời nay khi truyền thông chủ lưu của phương Tây nhắc đến 2 chữ “Xô viết” là họ muốn công chúng nghĩ đến Nga và đương kim Tổng thống Vladimir Putin.

Các nhà báo phương Tây không thể nhất quán về ông Putin: Khi thì họ gọi ông là một Hitler thứ 2, khi lại coi ông là một Stalin thời hiện tại”.

Điều thú vị là, các “chuyên gia” và truyền thông đại chúng phương Tây lại im lặng về một thực tế lịch sử, đó là hầu hết các cường quốc lớn của châu Âu đều đã ký các hiệp ước tương tự với nước Đức của Hitler trước khi Liên Xô làm vậy.

Chẳng hạn, chính Ba Lan - mà người ta coi là “nạn nhân” của hiệp ước không xâm lược lẫn nhau giữa Liên Xô và Đức - cũng đã ký một hiệp ước không xâm lược lẫn nhau với Đức Quốc xã vào ngày 26/1/1934.

Giáo sư Carley hỏi một cách ẩn ý: “Trong thập niên 1930, Ba Lan đóng vai trò của kẻ phá bĩnh. Đó là một chính thể cực hữu rất giống kiểu độc tài, bài Do Thái và có cảm tình với chủ nghĩa phát xít. Năm 1934, khi Liên Xô cảnh báo về Hitler, Ba Lan đã ký ngay một hiệp ước không xâm lược lẫn nhau ở Berlin. Vậy ai đâm sau lưng ai?”

Trong lúc chỉ tay kết tội phía Liên Xô đưa quân vào lãnh thổ của “Ba Lan” (khi không còn nhà nước Ba Lan nào tồn tại nữa ở đây sau khi Đức xâm lược nước này vào ngày 1/9/1939), một số sử gia phương Tây bắt đầu mắc chứng “mất trí nhớ”, và quên rằng chính các lãnh thổ này - Tây Ukraine và Tây Belarus - đã bị Ba Lan sáp nhập trong cuộc chiến tranh Ba Lan-Nga từ năm 1919-1921. Cuộc chiến này do Ba Lan đơn phương phát động để chống lại nước Nga Xô viết - lúc đó đã tan hoang vì nội chiến.

Giáo sư Carley nhấn mạnh: “Cho đến năm 1939, Ba Lan đã làm tất cả những gì có thể để phá hoại các nỗ lực của Liên Xô trong việc xây dựng một liên minh chống chủ nghĩa Quốc xã, dựa trên liên minh chống Đức từ thời Thế chiến thứ 1, bao gồm Pháp, Anh, Italy và vào năm 1917 cả Mỹ...

Trong các năm 1934-1935, khi Liên Xô tìm kiếm một hiệp ước tương trợ với Pháp thì Ba Lan lại cố công cản trở điều này”.

Thế còn Anh và Pháp? Đáng ngạc nhiên, vào thập niên 1930 cả London và Paris đều không vội gia nhập liên minh chống Đức của Liên Xô.

Carley chỉ ra rằng chính Maksim Litvinov, Dân ủy Đối ngoại Xô viết (tức Ngoại trưởng Liên Xô –ND) là người “đầu tiên thai nghén ý tưởng về một “Đại Liên minh” chống Hitler”. Tuy nhiên đại liên minh đó đã không bao giờ tồn tại khi ấy.

Châu Âu chỉ muốn Nga-Đức đánh nhau

Các sử gia nhất trí rằng các quan chức châu Âu bảo thủ đã coi Adolf Hitler là ít “tệ” hơn nước Nga Xô viết.

Hơn nữa, theo nhà kinh tế học Mỹ Guido Giacomo Preparata, đối với chính quyền Anh và Mỹ, chủ nghĩa Quốc xã được xem là động lực , và hoàn thành một quá trình đã bắt đầu từ Thế chiến thứ 1 - đó làm tan rã hoàn toàn Đế chế Nga cũ.

 Từ trái qua phải: Thống chế-Chủ tịch Quốc hội phát xít Đức Hermann Goering, Ngoại trưởng Italy Count Ciano cùng trùm phát xít Italy Benito Mussolini bắt tay Thủ tướng Anh Neville Chamberlain trong hội nghị 4 nước tổ chức ở Munich, Đức vào năm 1938. Ảnh: AP.

Nhà kinh tế học Preparata viết trong cuốn sách “Làm thế nào mà Anh và Mỹ đã tạo ra Đế chế 3 (Đức Quốc xã)”: “Nói với Churchill, Thủ tướng Anh Stanley Baldwin tóm tắt vấn đề vào tháng 7/1936 như sau: “Nếu chiến sự có diễn ra ở châu Âu thì tôi mong được chứng kiến cảnh tụi Bolshevik và Đức Quốc xã nện nhau”.

Giới chức châu Âu và Mỹ không chỉ không sẵn lòng thiết lập quan hệ liên minh với Liên Xô, mà còn tích cực đổ tiền vào nền kinh tế Đức Quốc xã, tạo điều kiện cho bộ máy chiến tranh của phát xít Đức phát triển.

Preparata tiếp tục nêu các chi tiết: Hãng sản xuất vũ khí danh tiếng của Anh, Vickers-Armstrong, đã cung cấp vũ khí hạng nặng cho Berlin, trong khi các công ty Mỹ như Pratt & Whitney, Douglas, Bendix Aviation... cung cấp cho các hãng của Đức như là BMW, Siemens... các bằng sáng chế, bí mật quân sự và các động cơ máy bay tối tân.

Vụ “phản bội” Munich 1938

Biên bản cuối cùng ghi lại trò chơi chính trị này là Thỏa thuận Munich do các cường quốc lớn tại châu Âu (gồm Anh, Đức, Pháp, Italy) (loại trừ Liên Xô và Tiệp Khắc) ký kết vào ngày 30/9/1938.

Thỏa thuận này cho phép nước Đức Quốc xã sáp nhập các khu vực biên giới phía bắc và phía tây của Tiệp Khắc.

Chính các tài liệu lưu trữ của Anh được công bố vào năm 2013 đã phơi bày thực tế khiến phương Tây phải bối rối là nước Anh không chỉ phản bội Tiệp Khắc bằng việc cho phép Hitler xâm lược nước đó mà còn tình nguyện trao gần 9 triệu USD tiền vàng vốn thuộc về Tiệp Khắc cho Đức Quốc xã.

Các thỏi vàng của Tiệp Khắc đã được gửi ngay cho Hitler vào tháng 3/1939 khi y chiếm Praha.

Giám đốc Trung tâm Nga học tại Đại học Nhân văn Moscow và Viện Phân tích Chiến lược Hệ thống - sử gia Andrei Fursov nhấn mạnh: “Vụ phản bội Munich ngày 29-30/9/1938 thực sự đánh dấu điểm bắt đầu .”

Sử gia này dẫn lại lá thư của Churchill (chính trị gia nổi tiếng của Anh) gửi Thiếu tá Ewal von Kleist, thành viên nhóm kháng chiến Đức và là phái viên của Bộ Tổng tham mưu Đức trước khi Hitler “nuốt” Tiệp Khắc: “Tôi chắc rằng việc binh sĩ hoặc máy bay Đức vượt qua biên giới của Tiệp Khắc sẽ mang lại một sự mới mẻ cho chiến tranh thế giới...

Một khi một cuộc chiến như vậy bắt đầu, chúng ta phải tính xem không chỉ những gì có thể xảy ra trong vài tháng đầu mà còn là vị trí của chúng ta sẽ ra sao vào cuối năm thứ 3 hoặc thứ 4 của cuộc chiến tranh”.

Đấy chưa phải là tất cả. Rất khó tin nhưng chính phủ Anh thực sự đã ngăn chặn một âm mưu đảo chính nhằm vào Adolf Hitler vào năm 1938.

Một nhóm sĩ quan cao cấp của quân đội Đức lên kế hoạch bắt giữ Hitler vào thời điểm Quốc trưởng Đức ra lệnh tấn công Tiệp Khắc.

Không thể giải thích được: Chính quyền Anh khi đó không chỉ từ chối giúp đỡ phong trào chống Hitler mà còn làm phá sản các kế hoạch của phong trào này.

Trong bài luận về giai đoạn 1938 này, tác giả Anh Michael McMenamin kể: “Về mặt lịch sử, không có nghi ngờ gì về việc phong trào kháng chiến Đức đã liên tục cảnh báo người Anh về ý đồ của Hitler muốn xâm lược Tiệp Khắc vào tháng 9/1938...

Tuy nhiên, để đáp lại, chính phủ của Thủ tướng Anh khi đó là Chamberlain đã thực hiện mọi bước đi ngoại giao có thể để... phá hoại phe đối lập với Hitler.”


 Từ phải qua trái: Ngoại trưởng Liên Xô Molotov, lãnh tụ Liên Xô Stalin, và Ngoại trưởng Đức Quốc xã Ribbentrop tạo dáng chụp ảnh sau khi ký kết Hiệp ước Xô-Đức không xâm lược lẫn nhau. Ảnh: AP.

Trích dẫn các nguồn tài liệu chính thức, tác giả McMenamin viết: “Thay vì công bố việc Hitler xâm lược châu Âu, vào ngày 28/9/1938, ông Chamberlain “đề xuất [với Quốc trưởng Đức] một hội nghị 5 bên giữa Anh, Đức, Tiệp Khắc, Pháp, và Italy, trong đó Chamberlain bảo đảm với Hitler rằng nước Đức có thể “nhận ngay tất cả những thứ thiết yếu mà không phải phát động chiến tranh”.

Tác giả này cho biết thêm, Chamberlain cũng nhắm mắt làm ngơ trước thực tế Đức đã loại bỏ Tiệp Khắc ra khỏi hội nghị này.

Tác giả Menamin nhấn mạnh, sau khi 4 quốc gia còn lại nhất trí chấp nhận việc Đức chiếm vùng Sudetenland của Tiệp Khắc trước bất kỳ một cuộc trưng cầu dân ý nào và cưỡng chế người Tiệp Khắc tuân theo, Chamberlain và Hitler đã ký bản Thỏa thuận Không Xâm lược lẫn nhau giữa Anh và Đức.

Cũng thú vị không kém, Giáo sư Carley thuật lại rằng trong cuộc khủng hoảng Tiệp Khắc, Ba Lan (“nạn nhân” tự xưng của Hiệp ước Molotov-Ribbentrop) yêu cầu rằng nếu “Hitler chuẩn bị chiếm vùng lãnh thổ Sudeten thì Ba Lan cũng phải có phần là khu Teschen (cũng ở Tiệp Khắc).

Nói cách khác, nếu Hitler được gắp khúc thịt, thì người Ba Lan chí ít cũng phải được xơi bìa đậu”.

Và như vậy, cây bút Nga Ekaterina Blinova hỏi xoáy: Ai câu kết với ai đây? Ai mới là kẻ phản bội đây?

Biến Hiệp ước Molotov-Ribbentrop thành ác quỷ

Theo Andrei Fursov, ở Munich 4 nước nói trên đã tạo ra một “dạng khối quân sự tiền thân của NATO” thực sự nhằm chống lại .

Cơ sở công nghiệp của Tiệp Khắc được nhắm tới để hỗ trợ cho việc phát triển sức mạnh quân sự Đức và bảo đảm nước Đức đủ khả năng mở một cuộc chiến tranh lớn chống lại “tụi Bolshevik” ở phía Đông, nhằm mở rộng không gian sinh tồn của dân tộc Đức.

Và giới tinh hoa châu Âu rất khoái ý tưởng về một cuộc chiến như thế, họ mong chờ cuộc chiến này sẽ làm kiệt sức cả Đức và Nga.

Dưới ánh sáng của các sự kiện này, nước cờ duy nhất để phá hoại kế hoạch đó và làm trì hoãn việc thực hiện nó là hoàn tất một hiệp ước không xâm lược lẫn nhau giữa Liên Xô và Đức, tương tự như các hiệp ước giữa Đức và các nước châu Âu.

Ngoài ra, việc hòa hoãn này còn giúp Liên Xô có thời gian tích trữ các nguồn lực cần thiết để đối phó với một cuộc xâm lược hung tàn không thể tránh khỏi từ phía Tây.

Michael Jabara Carley dẫn lời chính trị gia Winston Churchill (về sau là Thủ tướng Anh) phát biểu vào ngày 1/10/1939 trong một cuộc phỏng vấn với hãng phát thanh quốc gia Anh rằng hành động của Liên Xô “rõ ràng là cần thiết cho sự an toàn của Nga trước hiểm họa Quốc xã”.

Nếu vậy thì tại sao phương Tây hiện nay lại luôn cố gắng vẽ ra một bức tranh ác quỷ về Hiệp ước Không Xâm lược lẫn nhau Xô-Đức?

Giáo sư Carley nhận xét rằng đây là nỗ lực vô vọng của phương Tây muốn tẩy rửa các lỗi lầm nghiêm trọng vào những năm 1930, đó là việc họ không thể (hay không muốn) chặn đứng sự trỗi dậy của nước Đức Quốc xã và thiết lập một liên minh chống Hitler vào đầu thập niên 1930.

Giáo sư Carley nhấn mạnh rằng Hitler khơi mào Thế chiến 2, còn Anh liên tục khước từ các đề xuất của Liên Xô về an ninh tập thể. Ông nói, Anh thậm chí còn ép Pháp làm những điều tương tự./.

(Bài viết thể hiện góc nhìn và các tư liệu của cây bút Nga Ekaterina Blinova.)
Theo VOV

Góp phần chống diễn biến hòa bình trong lĩnh vực Quân sự Quốc phòng

  Xem đầy đủ tại: https://quansu.forumvi.com/t1265-topic#1712

PHẦN THỨ NHẤT

BẢO VỆ TỔ QUỐC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
NHIỆM VỤ CHIẾN LƯỢC CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM


TƯ DUY MỚI CỦA ĐẢNG
VỀ BẢO VỆ TỔ QUỐC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA


Bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là một nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam, là nhiệm vụ "trọng yếu thường xuyên" của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trong giai đoạn hiện nay. Trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện sự nghiệp quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, Đảng ta luôn trung thành và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bám sát đặc điểm, tình hình, yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng trong bối cảnh thế giới, đất nước có nhiều biến động phức tạp và đã đạt được những thành tựu rất quan trọng cả về nhận thức, quan điểm lý luận, cũng như trong tổ chức hoạt động thực tiễn.


Quá trình đổi mới nhận thức, phát triển tư duy cũng chính là quá trình khắc phục những hạn chế của tư duy cũ, đồng thời đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch của các thế lực thù địch, nhằm khẳng định, bảo vệ và thể hiện rõ hơn những nội dung của tư duy mới. Tư duy mới của Đảng về quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới thể hiện cụ thể và sâu sắc trên tất cả những vấn đề cơ bản của sự nghiệp củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc.


1. Điểm nhấn quan trọng hàng đầu trong tư duy mới của Đảng ta về quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc là tư duy mới về mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Từ nhận thức Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là thực thể thống nhất về tự nhiên - lịch sử và chính trị - xã hội, bao gồm toàn bộ các yếu tố địa lý, lãnh thổ, dân cư, các giá trị văn hóa - lịch sử,... và chế độ xã hội chủ nghĩa, Đại hội IX của Đảng đưa ra nội dung toàn diện về mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Nghị quyết Hội nghị làn thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khóa IX của Đảng đã cụ thể hoá: một là, bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; hai là, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; ba là, bảo vệ sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; bốn là, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; năm là, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và nền văn hóa; sáu là, giữ vững ổn định chính trị và môi trường hòa bình, phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa1 (Xem: Tài liệu học tập Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, tr.45-46).


Đại hội X của Đảng nhấn mạnh: "Xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân vững mạnh toàn diện; bảo vệ vững chắc Tổ quốc, độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ an ninh chính trị, an ninh kinh tế, an ninh tư tưởng văn hóa và an ninh xã hội...; không để bị động, bất ngờ"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.108-109, 109-110). Đồng thời đưa ra quan điểm: "Coi trọng nhiệm vụ bảo đảm an ninh chính trị nội bộ, nâng cao khả năng tự bảo vệ của mỗi người, của từng tổ chức, cơ quan, đơn vị"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.108-109, 109-110).


Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) tiếp tục khẳng định và chỉ rõ: "Mục tiêu, nhiệm vụ của quốc phòng, an ninh là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng. Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, giữ vững hòa bình, ổn định chính trị, bảo đảm an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội; chủ động ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta"3 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.81-82).


Nội dung rộng lớn và toàn diện của mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới nêu trên chi phối và quy định nội dung tư duy về lực lượng, sức mạnh; về phương thức đấu tranh; về đối tác - đối tượng; và tư duy về nhiệm vụ quân sự, quốc phòng của Đảng ta.


Theo tư duy của Đảng, thực chất bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là bảo vệ Tổ quốc trong một chỉnh thể thống nhất: bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và bảo vệ Đảng, chế độ xã hội chủ nghĩa. Tư duy của Đảng thể hiện rõ tính chất toàn diện, thống nhất của mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; mối quan hệ chặt chẽ, thống nhất, không thể tách rời giữa các nội dung trong mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Bảo vệ nội dung này cũng có nghĩa là góp phần bảo vệ nội dung khác, và ngược lại. Bảo vệ độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ gắn bó chặt chẽ với bảo vệ chế độ, bảo vệ Đảng, Nhà nước và quyền làm chủ của nhân dân; bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa cũng bao hàm cả bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ đất nước.


Những quan điểm cho rằng, bảo vệ Tổ quốc hiện nay "chỉ là bảo vệ đất nước, chủ quyền, lãnh thổ quốc gia", không cần phải gắn với bảo vệ chế độ, bảo vệ Đảng là những quan điểm thù địch, sai trái và phản khoa học. Tính chất thù địch, sai trái và phản khoa học đó thể hiện ở chỗ: thứ nhất, thực chất của những quan điểm đó là nhằm thủ tiêu sự lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa của nhân dân ta, thủ tiêu lực lượng lãnh đạo và chế độ xã hội mà chỉ có nó nhân dân ta mới có được độc lập, tự do, hạnh phúc thực sự; thứ hai, việc tách rời mặt tự nhiên - lịch sử và mặt chính trị - xã hội là điều không thể được đối với bất cứ tổ quốc nào. Những quan điểm đòi tách rời ra đó thực chất là nhằm hướng tới hủy hoại tính chất xã hội chủ nghĩa của mặt chính trị - xã hội của Tổ quốc Việt Nam, làm cho Tổ quốc Việt Nam của nhân dân ta mang tính chất khác, tính chất tư sản.


Tính chất nguy hiểm của quan điểm này thể hiện ở chỗ, không những nó làm cho chúng ta dễ rơi vào mất cảnh giác, trong thực tiễn bảo vệ Tổ quốc dễ dẫn đến chỉ chú trọng một chiều mặt bảo vệ này mà xem nhẹ, thậm chí bỏ qua mặt bảo vệ khác; mà còn làm phai nhạt mục tiêu, lý tưởng xã hội chủ nghĩa - mục tiêu, lý tưởng do chính lịch sử dân tộc ta, do chính nhân dân ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn và phấn đấu hy sinh với biết bao mồ hôi, công sức và cả máu xương của nhiều thế hệ người Việt Nam suốt hơn tám thập kỷ qua - trong ý thức của nhân dân và của cả cán bộ, đảng viên. Thực tế, trong chúng ta không phải không có người khi nói đến bảo vệ Tổ quốc là chỉ nói đến bảo vệ đất nước, độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, "không nói đến" bảo vệ chế độ; tính từ "xã hội chủ nghĩa" có vẻ như "dị ứng" trong nhận thức, tư tưởng của một số ít người.


Khẳng định sự thống nhất và gắn bó chặt chẽ giữa bảo vệ độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và bảo vệ chế độ, bảo vệ Đảng trong mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là thể hiện rõ sự kiên định về con đường và mục tiêu độc lập dần tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội ở nước ta trong bối cảnh lịch sử mới trong tư duy của Đảng, ở đây cần phải nhận thức rõ thêm, bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ cũng hàm chứa cả việc bảo vệ chế độ và sự lãnh đạo của Đảng; bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và sự lãnh đạo của Đảng cũng hàm chứa cả việc bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Điều đó phản ánh mối quan hệ, không thể tách rời giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp, giữa lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp, giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, giữa lợi ích của Đảng và lợi ích của các tầng lớp nhân dân trong mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa của nhân dân ta. Mọi sự tách rời giữa các mặt của các mối quan hệ đó đều là không đúng với bản chất và thực chất của mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.


Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là sợi chỉ đỏ xuyên suốt của cách mạng Việt Nam từ trước đến nay và từ nay về sau, đó vừa là mục tiêu, vừa là động lực tạo nên sức mạnh để dân tộc ta vững bước đi tới tương lai. Có giữ vững được độc lập dân tộc thì mới xây dựng được chủ nghĩa xã hội; đồng thời chỉ có thể đưa đất nước phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội thì nền độc lập dân tộc mới được bảo đảm vững chắc. Ngày nay, chúng ta nói bảo vệ đất nước, bảo vệ độc lập dân tộc gắn liền với bảo vệ chế độ là sự kế thừa, là sự phát triển lôgích và nâng lên tầm cao mới tư tưởng của ông cha ta về bảo vệ "sơn hà" gắn với bảo vệ "xã tắc" trong điều kiện lịch sử mới, điều kiện lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Trong tình hình mới, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh vừa là mục tiêu xây dựng vừa là mục tiêu bảo vệ. Đó là một sự biểu đạt mới về bảo vệ độc lập dân tộc gắn liền với bảo vệ chế độ trong mục tiêu bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa thời kỳ mới. Ở đây, mục tiêu bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa đã được diễn đạt khác, làm cho các nội dung bảo vệ trở nên rõ ràng và cụ thể hơn, phù hợp và thích ứng hơn.

Tìm hiểu về Biển, Đảo Việt Nam

   - Tên sách: Tìm hiểu về Biển, Đảo Việt Nam

- Tác giả: Đại tá Đặng Việt Thủy - Đại tá Đậu Xuân Luận
- Nhà xuất bản: Quân đội nhân dân
- Năm xuất bản: 2009
- Người số hóa: giangtvx, hqnd


LỜI NÓI ĐẦU


Thế kỷ XXI được các nhà chiến lược xem là "Thế kỷ của đại dương”, bởi cùng với tốc độ tăng trưởng kinh tế và dân số hiện nay, nguồn tài nguyên thiên nhiên, nhất là tài nguyên không tái tạo được trên đất liền sẽ bị cạn kiệt sau vài ba thập kỷ tới. Trong bối cảnh đó, các nước có biển, đặc biệt là các nước lớn đều coi trọng xây dựng chiến lược biển, tăng cường tiềm lực mọi mặt để khai thác và khống chế biển.


Đối với nước ta, biển đảo là một bộ phận cấu thành phạm vi chủ quyền thiêng liêng của Tô quốc, cùng với đất liền tạo ra môi trường sinh tồn và phát triển. Lấn biển để dựng nước và thông qua biển để giữ nước là một nét độc đáo của bản sắc văn hóa Việt Nam. Biển, đảo nước ta có những ưu thế và vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng đối với khu vực và trên thế giới. Việc xây dựng, quản lý, phát triển và bảo vệ quyền lợi biển, đảo là vấn đề có ý nghĩa chiến lược đối với việc gìn giữ toàn vẹn chủ quyền quốc gia, giữ vững ổn định chính trị và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong thời kỳ mở rộng quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế.


Cuốn sách "Tìm hiểu về biến, đảo Việt Nam" sẽ giúp bạn đọc thuận lợi khi nghiên cứu, tìm hiểu những kiến thức cơ bản về biển, Luật biển của quốc tế và Việt Nam; nhận rõ vai trò quan trọng, điều kiện tự nhiên và tiềm năng phát triển của đảo, quần đảo, vịnh, vũng, các bãi biển ở nước ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.


Trong quá trình sưu tầm, biên soạn, nhóm tác giả có sử dụng tư liệu các công trình nghiên cứu của những cá nhân và tập thể về biển, đảo Việt Nam. Chúng tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ và mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp của bạn đọc.